Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân báo cáo Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương

17:36 24/05/2019 | Lượt xem : 2544

  • Xem với cỡ chữ T T
  • Inverts
  • Lượt xem : 2544
(Moha.gov.vn) Chiều ngày 24/5, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân cho biết, dự thảo Luật gồm 3 điều, tập trung vào hai nhóm vấn đề: (1) Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng đã được ghi rõ trong Nghị quyết và (2) sửa đổi các nội dung vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân
báo cáo tại phiên họp

Đối với Luật Tổ chức Chính phủ


Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 23); nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ (Điều 28); nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với tư cách là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ (Điều 34).

Trong đó, về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 23), bổ sung Khoản 3a giao Chính phủ quy định khung số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; bổ sung Khoản 3b giao Chính phủ quy định tiêu chí thành lập tổ chức thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan chuyên môn có tính đặc thù thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và tổ chức bên trong của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; bổ sung Khoản 4a giao Chính phủ quy định biên chế tối thiểu của các tổ chức hành chính; bổ sung Khoản 4b giao Chính phủ quy định số lượng cấp phó tối đa của các tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.

Bổ sung khoản 9 quy định giao Chính phủ quyết định phân cấp những nhiệm vụ quản lý công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.

Bổ sung khoản 10 quy định thẩm quyền của Chính phủ quyết định thực hiện thí điểm những mô hình mới về tổ chức bộ máy của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi quyền hạn của Chính phủ khi pháp luật chưa quy định hoặc quy định không còn phù hợp.

Bổ sung khoản 11 quy định có tính nguyên tắc để xác định rõ thẩm quyền quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện theo quy định của Luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ (Điều 28): Sửa đổi điểm b khoản 2: Bỏ cụm từ “và thống nhất” để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Chính phủ. Sửa đổi điểm đ khoản 2: Bổ sung quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ thực hiện việc phân cấp và ủy quyền về quản lý công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập đối với những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Sửa đổi khoản 10: Bỏ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết định các tiêu chí, điều kiện thành lập hoặc giải thể các cơ quan chuyên môn đặc thù thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện để thực hiện thống nhất theo quy định của Chính phủ (sau khi đã bổ sung thẩm quyền của Chính phủ tại Khoản 3b Điều 23).

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với tư cách là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ (Điều 34): Sửa đổi khoản 5 và khoản 9: Bổ sung quy định về “cho từ chức” và “biệt phái” (tại khoản 5) và cụm từ “điều động, luân chuyển, biệt phái” (tại khoản 9) để thống nhất với thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức.

Sửa đổi khoản 8: Bỏ quy định thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc “quyết định thành lập các tổ chức phối hợp liên ngành”, bảo đảm thực hiện thống nhất theo thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quy định tại khoản 10 Điều 28 Luật tổ chức Chính phủ và Quyết định số 34/2007/QĐ-TTg ngày 12/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức phối hợp liên ngành.

Dự thảo Luật cũng bãi bỏ khoản 2 Điều 40 về số lượng cấp phó của Vụ, văn phòng, thanh tra, cục, tổng cục, đơn vị sự nghiệp công lập (thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ) để thực hiện thống nhất theo quy định của Chính phủ (sau khi đã bổ sung thẩm quyền của Chính phủ tại Khoản 4b Điều 23). Sửa đổi khoản 1 Điều 44 theo hướng chỉnh sửa cụm từ “hoặc họp bất thường” thành cụm từ “và họp đột xuất, họp chuyên đề” để phù hợp với tính chất của các cuộc họp này.

Đối với Luật Tổ chức chính quyền địa phương 

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các quy định về phân định thẩm quyền, phân quyền, ủy quyền đối với chính quyền địa phương (các điều 11, 12, 14); Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cơ cấu tổ chức HĐND các cấp (các điều 18, 25, 32, 39, 46, 53, 60, 67); Sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cơ cấu tổ chức của UBND cấp xã (các điều 9, 34, 62, 69).

Cụ thể, về phân định thẩm quyền, phân quyền, ủy quyền đối với chính quyền địa phương (các điều 11, 12, 14): sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điều 11 theo hướng quy định: Việc phân quyền, phân cấp cho các cấp chính quyền địa phương phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác; gắn phân quyền, phân cấp với cơ chế kiểm tra, thanh tra khi thực hiện phân quyền, phân cấp. Chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp.

Bổ sung khoản 1 Điều 12 nội dung: Các luật khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước phải bảo đảm không chồng chéo nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan. Các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ thì không được quy định các nhiệm vụ đó đối với chính quyền địa phương; các nhiệm vụ, quyền hạn đã quy định thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương cấp này thì không được quy định nhiệm vụ, quyền hạn đó đối với chính quyền địa phương cấp khác. Các luật khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương các cấp phải quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa phương ở từng cấp không được phân cấp, ủy quyền cho cơ quan nhà nước cấp dưới hoặc cơ quan, tổ chức khác. 

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 14 như sau: Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 14 như sau: Việc ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.  

Về cơ cấu tổ chức HĐND các cấp (các điều 18, 25, 32, 39, 46, 53, 60, 67): thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dự thảo Luật nghiên cứu sửa đổi một số nội dung sau: Giảm số lượng Phó Chủ tịch HĐND ở tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong cơ cấu của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện trong cả nước. Giảm số lượng đại biểu HĐND các cấp ở từng loại hình đơn vị hành chính (khoảng từ 10% đến 15% mỗi đơn vị hành chính). 

Quy định 01 Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách (Luật hiện hành quy định 02 Phó trưởng ban hoạt động chuyên trách). Quy định Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND cấp xã (Luật hiện hành quy định Thường trực HĐND cấp xã chỉ gồm Chủ tịch và 01 Phó Chủ tịch HĐND). 

Về sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cơ cấu tổ chức của UBND cấp xã (các điều 9, 34, 62, 69): giao Chính phủ quy định khung số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Quy định số lượng Phó Chủ tịch UBND cấp xã loại II có không quá 02 Phó Chủ tịch (Luật hiện hành quy định cấp xã loại II có 01 Phó Chủ tịch).

Các nội dung sửa đổi để giải quyết vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện

Bổ sung 01 khoản vào các điều 33, 61, 68 theo hướng quy định thẩm quyền của HĐND cấp xã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của cấp xã trước khi trình UBND cấp huyện phê duyệt để làm căn cứ cho chính quyền địa phương cấp xã thực hiện.

Sửa đổi khoản 2 và thay thế nội dung khoản 3 Điều 72 theo hướng quy định: Tại đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương cấp huyện ở hải đảo và việc tổ chức chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính cấp xã ở hải đảo trong trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo được chia thành các đơn vị hành chính cấp xã.

Sửa đổi, bổ sung Điều 75 về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo hướng việc tổ chức chính quyền địa phương, nhiệm vụ, quyền hạn và nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó. 

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 101: Trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không còn công tác tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu và không cư trú tại đơn vị hành chính mà mình đang là đại biểu thì phải xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu…

Một số nội dung xin ý kiến Quốc hội

Trong quá trình xây dựng dự án Luật còn có ý kiến khác nhau về giảm số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và giảm số lượng Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương, do đó, Chính phủ trình xin ý kiến Quốc hội:

1. Về giảm số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, Chính phủ thống nhất với loại ý kiến: Giảm số lượng 02 Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện hiện nay xuống còn 01 Phó Chủ tịch ở tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện nhằm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ về cơ cấu tổ chức HĐND cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi cả nước.

2. Về giảm số lượng Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, Chính phủ thống nhất với loại ý kiến: Quy định giảm số lượng Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh từ không quá 02 Phó Trưởng ban hiện nay xuống còn 01 Phó Trưởng ban nhằm thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo định hướng tại các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội.

Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân nhấn mạnh, trên cơ sở Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định./.

Thanh Tuấn (tổng hợp); Ảnh: Nguồn Quochoi.vn

  • banner-right-02
  • banner-right-03
  • banner-right-04
  • banner-right-03

Công bố chỉ số cải cách hành chính (Par Index)

  • banner-05

Thống kê truy cập

Lượt truy cập : 21.295.548

Khách Online : 395